Một số loài côn trùng gây hại

Dịch vụ Kiểm soát côn trùng, công ty khử trùng Mekong

SỰ PHÁT TRIỂN & TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI CÔN TRÙNG GÂY HẠI

MỐI:

            Mối  là  loài sống  lâu nhất  trong giới côn trùng, đặc biệt là mối chúa, có thể sống cả thập kỷ hoặc hơn.Mối thợ và mối lính có thể sống 1 – 5 năm tuỳ loài và môi trường.Mối  là  loài  côn trùng  biến  thái không  hoàn toàn, trứng  nở thành  ấu  trùng có  hình  dạng giống con trưởng  thành và trải  qua  nhiều  lần  lột xác. Mối con nở  từ  trứng được gọi  là  ấu trùng hay nhộng và được mối thợ chăm sóc, nuôi dưỡng.Mối  thợ  có  vòng  đời  qua  3  giai  đoạn: trứng,  nhộng  và  mối  trưởng  thành. Trứng  kéo  dài gần  1  tháng,  nhộng khoảng 1 tháng và mối trưởng thành có thể sống đến một vài năm Lầu 3, Tòa nhà

Vòng đời phát triển của mối: Trứng - Ấu trùng - Nhộng - Mối trưởng thành

Các loại mối trong đàn, từ trái qua phải: mối lính, mối thợ, nhộng, ấu trùng

Mối ở các giai đoạn biến thái khác nhau Tất cả các mối (mối thợ, mối chúa, mối lính, mối sinh  sản…) đều bắt nguồn  từ nhộng của mối  thợ. Số  lượng  từng  loại mối  được  kiểm  soát  bằng  lưu lượng pheromone  do mối  vua  hoặc mối  chúa sản xuất  ra cũng như  lượng  thức ăn và mật độ từng loại mối của đàn. Nhộng của mối thợ trải qua 7 lần lột xác với sự hỗ trợ của con trưởng thành nhai vỏ ngoài để con chui ra. Một vài loại mọt gỗ  lột  xác  không  cần  sự  hỗ  trợ  này. Nhộng cần  lột xác  thêm vài  lần nữa để trở thành mối lính. Một khi đã thành mối lính  thì  nó  không  thể  trở  về  mối  thợ được.

Mối sinh sản (cả đực và cái) trải qua giai đoạn  nhộng  dài  hơn  (vài  tháng)  do  lột xác nhiều lần hơn. Mối phá huỷ nhà xưởng, chuồng trại, đồ dùng, trang  thiết  bị  đặc  biệt  là  đồ  gỗ,carton, tập vở, quần áo…

CHUỘT:

Kẻ phá hoại khôn ngoan


Racumin®

Diệt chuột thông minh

■  Kinh tế, dễ sử dụng

■  Hoạt chất ổn định lâu dài

■  Dễ thay đổi vật liệu tạo bả

■  Không làm chuột sợ mồi

■  Hiệu quả cao trên toàn bầy

■  Không gây nhiễm độc thứ cấp

■  An toàn với người, vật nuôi,   môi trườngĐặc tính sinh học của chuột

■ Dành 40 % thời gian để liếm lông, chân

■ Các giác quan (khứu, vị, thính và xúc giác) rất nhạy cảm

■ Khó tính và không ăn thức ăn cũ, ôi, mốc hay có kiến

■ Di chuyển theo đường xác định (thường dọc theo bờ tường nhưng tránh những chỗ hở)

■ Dễ hình thành tính sợ bả khi thấy những chuột khác ăn bả và chết ngay

■ Sinh sản rất nhanh theo cấp số nhân (1 cặp chuột sinh ra 800 con sau 1 năm, 1 triệu (1.000.000) con sau 2 năm

Tác hại của chuột

■ Phá hoại 33 triệu tấn lương thực  hàng  năm  (đủ  nuôi  sống 200 triệu người/năm)

■ Làm ô nhiễm 3  lần  lượng  thức ăn mà  nó  tiêu  thụ  do  phân,  nước  tiểu, lông và mầm bệnh

■ Phá hủy các công  trình xây dựng, đường xá, nhà xưởng, trang thiết bị. Chuột là loài gặm nhấm, răng cửa phát triển liên tục, có thể gặm nát gỗ, dây điện, ống nước, đào hang, phá hủy nhà cửa, kho bãi, bao bì… làm tăng chi phí sửa chữa, làm ngừng trệ sản xuất, đôi khi gây hỏa hoạn thiêu hủy các công trình, tài sản...

■  Quấy  nhiễu,  gây  tổn thương đàn gia súc làm giảm năng suất sữa, trứng và thịt

■ Chuột mang hơn 200  loại mầm  bệnh  gồm  virus,  vi khuẩn,  nấm,  kí  sinh  trùng như lở mồm long móng, giả dại,  dịch  tả,  cúm  gia  cầm, PRRS, mycoplasma, thương hàn, lepto, E.coli, nấm phổi, cầu  trùng,  giun  sán,  viêm não, dịch hạch… …Một bãi phân  chuột  chứa  khoảng 230.000  vi  khuSalmonella

Chuột lấy đi lợi nhuận của chính chúng taRacumin là gì?

Racumin là thuốc diệt chuột đa liều theo cơ chế chống đông máu

■ Đông máu  là  phản  ứng  sinh  học  tự nhiên  để  chống  lại  việc  mất  máu  khi thành mạch bị tổn thương

■ Racumin ngăn cản quá trình sinh tổng hợp Prothrombin → Hàm lượng Throm-bin giảm → Fibrinogen (hòa tan) không biến  đổi  thành  Fi¬brin  (sợi  huyết) → Mạch máu giòn dễ vỡ và không được bịt lại → Máu chảy  liên  tục → Chuột chết do mất máu

Diệt chuột bằng Racumin có những ưu điểm sau:

○ Racumin bị phân giải nhanh trong cơ thể,  độ  độc  thấp  nếu  chỉ  ăn  một  lần. Chuột chỉ chết khi được ăn Racumin tối thiểu  trong 2-3 ngày do chảy máu mũi, chân  răng,  xuất  huyết  nội  tạng,  xuất huyết dưới da...

○ Chuột nhiễm Racumin chết từ từ nên đồng loại không biết chuột chết do thuốc vì  thế  không  gây cảm giác sợ bả nên diệt  triệt để toàn bầy.

Racumin®

Thuốc diệt chuột thông minh và an toàn

○ Không độc cho thú ăn phải chuột chết do Racumin. Qua nhiều năm đưa  ra  sử dụng  chưa  thấy  1  trường  hợp  ngộ  độc nào do thú ăn phải chuột chết do thuốc.

○ Không  gây  độc  cấp  tính,  không  gây ung  thư,  quái  thai,  không  ức  chế  cho-linesterase,  không  ảnh  hưởng  đến  khả năng sinh sản và phát triển của động vật, không làm ô nhiễm nguồn nước ngầm…

○  Racumin  được  dùng  diệt  chuột  hiệu quả  ở  nhiều  nước  như Anh, Đức, Đan Mạch, Phần Lan, Bồ Đào Nha, New Zea-land,  Nam  Phi,  Tanzania,  Philippines, Việt Nam…. Không có nơi nào trên thế giới cấm hay hạn chế sử dụng Racumin.

Bước 1: Điều tra

■ Loài gây hại: chuột cống, chuột đồng, chuột nhắt…

■ Xác định mật độ chuột (tùy mức độ gây hại)

○ Vài bãi phân chuột: gần 100 con

○ Thỉnh thoảng thấy chuột vào ban đêm: 100– 500 con

○ Đôi khi thấy xuất hiện vào ban ngày và nghe tiếng chuột vào ban đêm: 400 – 1000 con

○ Nhìn thấy nhiều lần vào ban ngày: gần 5000 con

* Nguồn: Dr Haynes, Mississippi State University

■ Xác định khu vực hoạt động thường xuyên của chuột.Chú ý nơi chứa thức ăn và chỗ ẩn náu: khu vực thường đóng kín, kho thức ăn, máng ăn, khu vực ấm. Điều tra tối thiểu 100 m xung quanh trại

■ Vẽ sơ đồ khu vực trại và đánh dấu những điểm chuột thường

xuất hiện

Cách diệt chuột thành công 

Bước 2: Xác định điểm rắc thuốc hay đặt bả

Điều  tra  nơi  hoạt  động  của  chuột dựa  trên  cơ  sở:  phân  chuột,  lông chuột,  vết  gặm  nhấm,  mùi  nước tiểu,  vết  đào  bới,  vết  chân  chuột, tiếng chuột kêu, nơi chuột ẩn nấp, hang chuột, xác chuột

Vẽ sơ đồ đặt bả: sử dụng sơ đồ hoạt động của chuột, đánh dấu vị trí đặt bả, tính số dụng cụ đặt bả  (trùng với số điểm đặt bả)

Bước 3: Thực hiện

Racumin TP 0,75 có  thể được dùng để rắc trực tiếp hay để tạo bả

a. Rắc thuốc

Rắc  1  lớp  bột  Racumin  TP  0,75  dày 0,3-0,5cm bên ngoài miệng hang, nơi ẩn nấp hay đường chuột chạy

Bột Racumin sẽ dính vào chân và lông, chuột ăn phải thuốc khi liếm lông, chân và chết sau 3-5 ngày ăn thuốc liên tục thường xuyên kiểm tra và rắc thêm nếu lượng thuốc bị tiêu thụ  Cách diệt chuột thành công đưa bả vào dụng cụ đặt bả rắc thuốc miệng hang

b. Tạo bả

■ Trộn đều 1 phần Racumin TP 0,75 với 19 phần thức ăn mà chuột ưa thích (tấm bắp, cám, cơm…)

■ Nên đặt bả trong dụng cụ đặt bả như ống  tre,  nứa,  ống  nhựa,  hộp  nhựa,  gỗ, carton… có 2 lỗ vào và ra, ở nơi chuột hay  lui  tới,  trong  khu  vực  kiếm  ăn, đường  chuột  đi  hay  nơi  ẩn  náu  của chuột...

Lưu ý

■ Đặt dụng cụ đặt bả trống để chuột làm quen trong 3-5 ngày

■ Đặt mồi chưa trộn Racumin vào dụng cụ  đặt  bả  trong  2-3  ngày  để  xác  định chính xác nơi chuột hay lui tới

c. Đặt bả

■  Đối  với  chuột  cống:  100  –  200g bả/điểm, 2 điểm đặt bả/50 m2■ Đối với chuột nhắt: 30 – 50 g bả/điểm, mỗi điểm đặt bả cách nhau 3 m

■ Kiểm tra và bổ sung bả thường xuyên cho đến khi không còn bả nào được tiêu thụ

■ Thay bả mới ngay khi bả bị ẩm, mốc hoặc có kiến

■ Đừng bao giờ để điểm đặt bả trống trong quá trình diệt chuột cách diệt chuột thành công. Hộp đặt bả Bayer Vietnam

Bước 4: Kiểm tra kết quả.Thường xuyên theo dõi (ít nhất 2 lần/tuần), ghi nhận số lượng bả bị tiêu thụ tại mỗi điểm đặt

○ Nếu bả được tiêu thụ hoàn toàn: tăng gấp đôi lượng bả

○ Bả được tiêu thụ 1 phần: bổ sung cho đầy lại

○ Bả không được tiêu thụ: di chuyển bả đi chỗ khác có chuột hoạt động nhiều hơn

Bước 5: Tiếp tục theo dõi và thực hiện các bước phòng ngừa chuột gây hại trở lại

Đừng bao giờ lơi lỏng việc diệt chuột. Lưu ý: Báo bác sĩ nếu lỡ nuốt phải thuốc do nhầm lẫn hay sử dụng không đúng. Thuốc giải độc: Vitamin K1, tiêm bắp hay dưới da với liều 0,25 – 2,5 mg/kg thể trọng

RUỒI:

VẤN NẠN TOÀN CẦU

Ruồi nhà có màu xám, dài  6 - 9 mm với 4 viền đen ở ngực. Ruồi thường bám đậu ở  góc,  dây,  sào,  tường,  trần…  nơi  kín gió.  Chất  thải,  xác  súc  vật,  phân,  rác, máu,  mủ,  chất  nôn  ói…là  thức  ăn  ưa thích của ruồi.Ruồi có vòi cấu  tạo  theo kiểu  liếm hút, khi không ăn vòi được gập vào ổ miệng. Ngực  ruồi  có  3  đôi  chân,  1  đôi  cánh mỏng  với  5  gân  dọc. Chân  gồm  nhiều đốt, có  lông, đốt cuối bàn chân có đệm móng và tuyếntiết dịch. Bụng ruồi có 5 khoang,  ruồi  cái  có  ống  dẫn  trứng thường kéo dài ra khi đẻ và co lại sau đẻ. (Ảnh  ruồi  có  vòi)  và  (ảnh  ruồi  không vòi)Trong  điều  kiện  ấm  áp,  một  tháng  có khoảng hai đến ba thế hệ ruồi được sinh ra.  Ruồi  có  vòng đời  biến  thái  qua 4  giai  đoạn:

■ Hoạt chất mới, diệt ruồi nhanh và triệt để

■ Chất dẫn dụ đặc biệt thu hút ruồi

■ Phụ gia bitrex cực đắng tránh vật nuôi lỡ ăn phải

■ Lý tưởng dùng cho nhà xưởng và trang trại chăn nuôi

■ Kinh tế, dễ sử dụng

Vấn nạn toàn cầu loài côn trùng gây hại trên toàn thế giới trứng,  ấu  trùng  (giòi),  thanh  trùng (nhộng)  và  ruồi  trưởng  thành.  Chỉ  vài giờ  sau nở  ruồi  có  thể giao phối và đẻ trứng sau vài ngày. Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân, xác súc vật…, mỗi lần đẻ  khoảng  100  -  150  trứng  và  có  khả năng đẻ được từ 4 - 8 lần trong đời. Sau 8 - 20 giờ, trứng nở ra giòi, giòi lột xác 2 lần. Sau 2 - 4 ngày, giòi tìm nơi đất xốp chui  xuống  để  phát  triển  thành  nhộng, sau  3  –  6  ngày  nhộng  phát  triển  thành ruồi  chui  lên mặt  đất.  Thời  gian  hoàn thành vòng đời của  ruồi phụ  thuộc vào nhiệt  độ,  thời  tiết  và  thức  ăn  của môi trường. Ở môi  trường  thức ăn phù hợp và  nhiệt  độ  khoảng  18oC,  ruồi  hoàn thành vòng đời trong khoảng 20 ngày; ở 28oC  thời  gian  này  rút  ngắn  còn  10,5 ngày. Mùa  hè  ruồi  sống  khoảng  18-20 ngày, mùa đông sống lâu hơn, có thể đến 4 tháng.

Bến đậu cuối cùng của ruồi Quick Bayt Với 3 cặp chân đốt có nhiều lông ở đệm móng và miệng có vòi liếm hút, ruồi có khả năng mang và  truyền hơn 100  loại mầm  bệnh  cho  người  và  vật  nuôi  như dịch  tả  (cholera),  lao,  thương  hàn (Typhoid),  lỵ  (Dysentery),  dấu  son, nhiệt  thán,  liên  cầu  khuẩn

(streptococcus),  tụ  cầu  khuẩn (staphylococcus),  đậu  mùa,  mắt  hột, viêm gan, bại liệt, PRRS, cúm gia cầm, PED, TGE,  lỵ  amýp,  trùng  roi,    trứng giun  sán,  giun  chỉ  (Onchocerciasis), bệnh giòi (Myiasis), nấm… Sau khi bám đậu  lên  phân,  chất  thải,  máu  mủ,  xác chết  chứa mầm  bệnh,  chân  ruồi  có  thể

mang tới 6 triệu vi khuẩn. Do đặc  tính sinh  lý, sinh  thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi, nó đã trở thành một  trong  các  nguyên  nhân  quan trọng gây bùng phát bệnh, đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa như dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm. Ngoài truyền nhiều dịch bệnh nguy hiểm ruồi còn  làm vấy bẩn và ô nhiễm nguồi thức  ăn,  nước  uống,  quấy  nhiễu  người, gây ngứa ngáy, khó chịu làm giảm năng suất vật nuôi.Ruồi nhà có màu xám, dài  6 - 9 mm với 4 viền đen ở ngực. Ruồi thường bám đậu ở  góc,  dây,  sào,  tường,  trần…  nơi  kín gió.  Chất  thải,  xác  súc  vật,  phân,  rác, máu,  mủ,  chất  nôn  ói…là  thức  ăn  ưa thích của ruồi.Ruồi có vòi cấu  tạo  theo kiểu  liếm hút, khi không ăn vòi được gập vào ổ miệng. Ngực  ruồi  có  3  đôi  chân,  1  đôi  cánh mỏng  với  5  gân  dọc. Chân  gồm  nhiều đốt, có  lông, đốt cuối bàn chân có đệm móng và tuyến tiết dịch. Bụng ruồi có 5 khoang,  ruồi  cái  có  ống  dẫn  trứng thường kéo dài ra khi đẻ và co lại sau đẻ. (Ảnh  ruồi  có  vòi)  và  (ảnh  ruồi  không vòi)Trong  điều  kiện  ấm  áp,  một  tháng  có khoảng hai đến ba thế hệ ruồi được sinh ra.

 Ruồi  có  vòng đời  biến  thái  qua 4  giai  đoạn: trứng,  ấu  trùng  (giòi),  thanh  trùng (nhộng)  và  ruồi  trưởng  thành.  Chỉ  vài giờ  sau nở  ruồi  có  thể giao phối và đẻ trứng sau vài ngày. Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân, xác súc vật…, mỗi lần đẻ  khoảng  100  -  150  trứng  và  có  khả năng đẻ được từ 4 - 8 lần trong đời. Sau 8 - 20 giờ, trứng nở ra giòi, giòi lột xác 2 lần. Sau 2 - 4 ngày, giòi tìm nơi đất xốp chui  xuống  để  phát  triển  thành  nhộng, sau  3  –  6  ngày  nhộng  phát  triển  thành ruồi  chui  lên mặt  đất.  Thời  gian  hoàn thành vòng đời của  ruồi phụ  thuộc vào nhiệt  độ,  thời  tiết  và  thức  ăn  của môi trường. Ở môi  trường  thức ăn phù hợp và  nhiệt  độ  khoảng  18oC,  ruồi  hoàn thành vòng đời trong khoảng 20 ngày; ở 28oC  thời  gian  này  rút  ngắn  còn  10,5 ngày. Mùa  hè  ruồi  sống  khoảng  18-20 ngày, mùa đông sống lâu hơn, có thể đến 4 tháng.

Cách 2

- Hoà  20  g QuickBayt  trong  20 ml nước  ấm  trong  bình  thuỷ  tinh  hay nhựa có miệng rộng

-  Khuấy  kỹ  tạo  dung  dịch  keo  sệt đồng nhất

-  Dùng  cọ  quét  sơn  quét  một  lớp mỏng  lên  bề  mặt  những  nơi  ruồi thường  bám  đậu.  Không  quét  lên những nơi có nhiều bụi

Cách 1

- Rải đều một lớp mỏng sao cho các hạt QuickBayt nằm kề nhau trên khay, đĩa

- Đặt khay, đĩa ở khu vực có nhiều ruồi

- Mỗi gói 20 g có thể xử lý cho 12 m2 bề mặt

- Khi ruồi ăn hết thuốc và ruồi chết phủ kín bề mặt khay đĩa, thay rửa và rải lớp mới.Với 3 cặp chân đốt có nhiều lông ở đệm móng và miệng có vòi liếm hút, ruồi có khả năng mang và  truyền hơn 100  loại mầm  bệnh  cho  người  và  vật  nuôi  như dịch  tả  (cholera),  lao,  thương  hàn (Typhoid),  lỵ  (Dysentery),  dấu  son, nhiệt  thán,  liên  cầu  khuẩn (streptococcus),  tụ  cầu  khuẩn (staphylococcus),  đậu  mùa,  mắt  hột, viêm gan, bại liệt, PRRS, cúm gia cầm, PED, TGE,  lỵ  amýp,  trùng  roi,    trứng

giun  sán,  giun  chỉ  (Onchocerciasis), bệnh giòi (Myiasis), nấm… Sau khi bám đậu  lên  phân,  chất  thải,  máu  mủ,  xác chết  chứa mầm  bệnh,  chân  ruồi  có  thể