Một số loài côn trùng gây hại

Dịch vụ Kiểm soát côn trùng, công ty khử trùng Mekong

SỰ PHÁT TRIỂN & TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI CÔN TRÙNG GÂY HẠI

MỐI:

            Mối  là  loài sống  lâu nhất  trong giới côn trùng, đặc biệt là mối chúa, có thể sống cả thập kỷ hoặc hơn.Mối thợ và mối lính có thể sống 1 – 5 năm tuỳ loài và môi trường.Mối  là  loài  côn trùng  biến  thái không  hoàn toàn, trứng  nở thành  ấu  trùng có  hình  dạng giống con trưởng  thành và trải  qua  nhiều  lần  lột xác. Mối con nở  từ  trứng được gọi  là  ấu trùng hay nhộng và được mối thợ chăm sóc, nuôi dưỡng.Mối  thợ  có  vòng  đời  qua  3  giai  đoạn: trứng,  nhộng  và  mối  trưởng  thành. Trứng  kéo  dài gần  1  tháng,  nhộng khoảng 1 tháng và mối trưởng thành có thể sống đến một vài năm Lầu 3, Tòa nhà

Vòng đời phát triển của mối: Trứng - Ấu trùng - Nhộng - Mối trưởng thành

Các loại mối trong đàn, từ trái qua phải: mối lính, mối thợ, nhộng, ấu trùng

Mối ở các giai đoạn biến thái khác nhau Tất cả các mối (mối thợ, mối chúa, mối lính, mối sinh  sản…) đều bắt nguồn  từ nhộng của mối  thợ. Số  lượng  từng  loại mối  được  kiểm  soát  bằng  lưu lượng pheromone  do mối  vua  hoặc mối  chúa sản xuất  ra cũng như  lượng  thức ăn và mật độ từng loại mối của đàn. Nhộng của mối thợ trải qua 7 lần lột xác với sự hỗ trợ của con trưởng thành nhai vỏ ngoài để con chui ra. Một vài loại mọt gỗ  lột  xác  không  cần  sự  hỗ  trợ  này. Nhộng cần  lột xác  thêm vài  lần nữa để trở thành mối lính. Một khi đã thành mối lính  thì  nó  không  thể  trở  về  mối  thợ được.

Mối sinh sản (cả đực và cái) trải qua giai đoạn  nhộng  dài  hơn  (vài  tháng)  do  lột xác nhiều lần hơn. Mối phá huỷ nhà xưởng, chuồng trại, đồ dùng, trang  thiết  bị  đặc  biệt  là  đồ  gỗ,carton, tập vở, quần áo…

CHUỘT:

Kẻ phá hoại khôn ngoan


Racumin®

Diệt chuột thông minh

■  Kinh tế, dễ sử dụng

■  Hoạt chất ổn định lâu dài

■  Dễ thay đổi vật liệu tạo bả

■  Không làm chuột sợ mồi

■  Hiệu quả cao trên toàn bầy

■  Không gây nhiễm độc thứ cấp

■  An toàn với người, vật nuôi,   môi trườngĐặc tính sinh học của chuột

■ Dành 40 % thời gian để liếm lông, chân

■ Các giác quan (khứu, vị, thính và xúc giác) rất nhạy cảm

■ Khó tính và không ăn thức ăn cũ, ôi, mốc hay có kiến

■ Di chuyển theo đường xác định (thường dọc theo bờ tường nhưng tránh những chỗ hở)

■ Dễ hình thành tính sợ bả khi thấy những chuột khác ăn bả và chết ngay

■ Sinh sản rất nhanh theo cấp số nhân (1 cặp chuột sinh ra 800 con sau 1 năm, 1 triệu (1.000.000) con sau 2 năm

Tác hại của chuột

■ Phá hoại 33 triệu tấn lương thực  hàng  năm  (đủ  nuôi  sống 200 triệu người/năm)

■ Làm ô nhiễm 3  lần  lượng  thức ăn mà  nó  tiêu  thụ  do  phân,  nước  tiểu, lông và mầm bệnh

■ Phá hủy các công  trình xây dựng, đường xá, nhà xưởng, trang thiết bị. Chuột là loài gặm nhấm, răng cửa phát triển liên tục, có thể gặm nát gỗ, dây điện, ống nước, đào hang, phá hủy nhà cửa, kho bãi, bao bì… làm tăng chi phí sửa chữa, làm ngừng trệ sản xuất, đôi khi gây hỏa hoạn thiêu hủy các công trình, tài sản...

■  Quấy  nhiễu,  gây  tổn thương đàn gia súc làm giảm năng suất sữa, trứng và thịt

■ Chuột mang hơn 200  loại mầm  bệnh  gồm  virus,  vi khuẩn,  nấm,  kí  sinh  trùng như lở mồm long móng, giả dại,  dịch  tả,  cúm  gia  cầm, PRRS, mycoplasma, thương hàn, lepto, E.coli, nấm phổi, cầu  trùng,  giun  sán,  viêm não, dịch hạch… …Một bãi phân  chuột  chứa  khoảng 230.000  vi  khuSalmonella

Chuột lấy đi lợi nhuận của chính chúng taRacumin là gì?

Racumin là thuốc diệt chuột đa liều theo cơ chế chống đông máu

■ Đông máu  là  phản  ứng  sinh  học  tự nhiên  để  chống  lại  việc  mất  máu  khi thành mạch bị tổn thương

■ Racumin ngăn cản quá trình sinh tổng hợp Prothrombin → Hàm lượng Throm-bin giảm → Fibrinogen (hòa tan) không biến  đổi  thành  Fi¬brin  (sợi  huyết) → Mạch máu giòn dễ vỡ và không được bịt lại → Máu chảy  liên  tục → Chuột chết do mất máu

Diệt chuột bằng Racumin có những ưu điểm sau:

○ Racumin bị phân giải nhanh trong cơ thể,  độ  độc  thấp  nếu  chỉ  ăn  một  lần. Chuột chỉ chết khi được ăn Racumin tối thiểu  trong 2-3 ngày do chảy máu mũi, chân  răng,  xuất  huyết  nội  tạng,  xuất huyết dưới da...

○ Chuột nhiễm Racumin chết từ từ nên đồng loại không biết chuột chết do thuốc vì  thế  không  gây cảm giác sợ bả nên diệt  triệt để toàn bầy.

Racumin®

Thuốc diệt chuột thông minh và an toàn

○ Không độc cho thú ăn phải chuột chết do Racumin. Qua nhiều năm đưa  ra  sử dụng  chưa  thấy  1  trường  hợp  ngộ  độc nào do thú ăn phải chuột chết do thuốc.

○ Không  gây  độc  cấp  tính,  không  gây ung  thư,  quái  thai,  không  ức  chế  cho-linesterase,  không  ảnh  hưởng  đến  khả năng sinh sản và phát triển của động vật, không làm ô nhiễm nguồn nước ngầm…

○  Racumin  được  dùng  diệt  chuột  hiệu quả  ở  nhiều  nước  như Anh, Đức, Đan Mạch, Phần Lan, Bồ Đào Nha, New Zea-land,  Nam  Phi,  Tanzania,  Philippines, Việt Nam…. Không có nơi nào trên thế giới cấm hay hạn chế sử dụng Racumin.

Bước 1: Điều tra

■ Loài gây hại: chuột cống, chuột đồng, chuột nhắt…

■ Xác định mật độ chuột (tùy mức độ gây hại)

○ Vài bãi phân chuột: gần 100 con

○ Thỉnh thoảng thấy chuột vào ban đêm: 100– 500 con

○ Đôi khi thấy xuất hiện vào ban ngày và nghe tiếng chuột vào ban đêm: 400 – 1000 con

○ Nhìn thấy nhiều lần vào ban ngày: gần 5000 con

* Nguồn: Dr Haynes, Mississippi State University

■ Xác định khu vực hoạt động thường xuyên của chuột.Chú ý nơi chứa thức ăn và chỗ ẩn náu: khu vực thường đóng kín, kho thức ăn, máng ăn, khu vực ấm. Điều tra tối thiểu 100 m xung quanh trại

■ Vẽ sơ đồ khu vực trại và đánh dấu những điểm chuột thường

xuất hiện

Cách diệt chuột thành công 

Bước 2: Xác định điểm rắc thuốc hay đặt bả

Điều  tra  nơi  hoạt  động  của  chuột dựa  trên  cơ  sở:  phân  chuột,  lông chuột,  vết  gặm  nhấm,  mùi  nước tiểu,  vết  đào  bới,  vết  chân  chuột, tiếng chuột kêu, nơi chuột ẩn nấp, hang chuột, xác chuột

Vẽ sơ đồ đặt bả: sử dụng sơ đồ hoạt động của chuột, đánh dấu vị trí đặt bả, tính số dụng cụ đặt bả  (trùng với số điểm đặt bả)

Bước 3: Thực hiện

Racumin TP 0,75 có  thể được dùng để rắc trực tiếp hay để tạo bả

a. Rắc thuốc

Rắc  1  lớp  bột  Racumin  TP  0,75  dày 0,3-0,5cm bên ngoài miệng hang, nơi ẩn nấp hay đường chuột chạy

Bột Racumin sẽ dính vào chân và lông, chuột ăn phải thuốc khi liếm lông, chân và chết sau 3-5 ngày ăn thuốc liên tục thường xuyên kiểm tra và rắc thêm nếu lượng thuốc bị tiêu thụ  Cách diệt chuột thành công đưa bả vào dụng cụ đặt bả rắc thuốc miệng hang

b. Tạo bả

■ Trộn đều 1 phần Racumin TP 0,75 với 19 phần thức ăn mà chuột ưa thích (tấm bắp, cám, cơm…)

■ Nên đặt bả trong dụng cụ đặt bả như ống  tre,  nứa,  ống  nhựa,  hộp  nhựa,  gỗ, carton… có 2 lỗ vào và ra, ở nơi chuột hay  lui  tới,  trong  khu  vực  kiếm  ăn, đường  chuột  đi  hay  nơi  ẩn  náu  của chuột...

Lưu ý

■ Đặt dụng cụ đặt bả trống để chuột làm quen trong 3-5 ngày

■ Đặt mồi chưa trộn Racumin vào dụng cụ  đặt  bả  trong  2-3  ngày  để  xác  định chính xác nơi chuột hay lui tới

c. Đặt bả

■  Đối  với  chuột  cống:  100  –  200g bả/điểm, 2 điểm đặt bả/50 m2■ Đối với chuột nhắt: 30 – 50 g bả/điểm, mỗi điểm đặt bả cách nhau 3 m

■ Kiểm tra và bổ sung bả thường xuyên cho đến khi không còn bả nào được tiêu thụ

■ Thay bả mới ngay khi bả bị ẩm, mốc hoặc có kiến

■ Đừng bao giờ để điểm đặt bả trống trong quá trình diệt chuột cách diệt chuột thành công. Hộp đặt bả Bayer Vietnam

Bước 4: Kiểm tra kết quả.Thường xuyên theo dõi (ít nhất 2 lần/tuần), ghi nhận số lượng bả bị tiêu thụ tại mỗi điểm đặt

○ Nếu bả được tiêu thụ hoàn toàn: tăng gấp đôi lượng bả

○ Bả được tiêu thụ 1 phần: bổ sung cho đầy lại

○ Bả không được tiêu thụ: di chuyển bả đi chỗ khác có chuột hoạt động nhiều hơn

Bước 5: Tiếp tục theo dõi và thực hiện các bước phòng ngừa chuột gây hại trở lại

Đừng bao giờ lơi lỏng việc diệt chuột. Lưu ý: Báo bác sĩ nếu lỡ nuốt phải thuốc do nhầm lẫn hay sử dụng không đúng. Thuốc giải độc: Vitamin K1, tiêm bắp hay dưới da với liều 0,25 – 2,5 mg/kg thể trọng

RUỒI:

VẤN NẠN TOÀN CẦU

Ruồi nhà có màu xám, dài  6 - 9 mm với 4 viền đen ở ngực. Ruồi thường bám đậu ở  góc,  dây,  sào,  tường,  trần…  nơi  kín gió.  Chất  thải,  xác  súc  vật,  phân,  rác, máu,  mủ,  chất  nôn  ói…là  thức  ăn  ưa thích của ruồi.Ruồi có vòi cấu  tạo  theo kiểu  liếm hút, khi không ăn vòi được gập vào ổ miệng. Ngực  ruồi  có  3  đôi  chân,  1  đôi  cánh mỏng  với  5  gân  dọc. Chân  gồm  nhiều đốt, có  lông, đốt cuối bàn chân có đệm móng và tuyếntiết dịch. Bụng ruồi có 5 khoang,  ruồi  cái  có  ống  dẫn  trứng thường kéo dài ra khi đẻ và co lại sau đẻ. (Ảnh  ruồi  có  vòi)  và  (ảnh  ruồi  không vòi)Trong  điều  kiện  ấm  áp,  một  tháng  có khoảng hai đến ba thế hệ ruồi được sinh ra.  Ruồi  có  vòng đời  biến  thái  qua 4  giai  đoạn:

■ Hoạt chất mới, diệt ruồi nhanh và triệt để

■ Chất dẫn dụ đặc biệt thu hút ruồi

■ Phụ gia bitrex cực đắng tránh vật nuôi lỡ ăn phải

■ Lý tưởng dùng cho nhà xưởng và trang trại chăn nuôi

■ Kinh tế, dễ sử dụng

Vấn nạn toàn cầu loài côn trùng gây hại trên toàn thế giới trứng,  ấu  trùng  (giòi),  thanh  trùng (nhộng)  và  ruồi  trưởng  thành.  Chỉ  vài giờ  sau nở  ruồi  có  thể giao phối và đẻ trứng sau vài ngày. Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân, xác súc vật…, mỗi lần đẻ  khoảng  100  -  150  trứng  và  có  khả năng đẻ được từ 4 - 8 lần trong đời. Sau 8 - 20 giờ, trứng nở ra giòi, giòi lột xác 2 lần. Sau 2 - 4 ngày, giòi tìm nơi đất xốp chui  xuống  để  phát  triển  thành  nhộng, sau  3  –  6  ngày  nhộng  phát  triển  thành ruồi  chui  lên mặt  đất.  Thời  gian  hoàn thành vòng đời của  ruồi phụ  thuộc vào nhiệt  độ,  thời  tiết  và  thức  ăn  của môi trường. Ở môi  trường  thức ăn phù hợp và  nhiệt  độ  khoảng  18oC,  ruồi  hoàn thành vòng đời trong khoảng 20 ngày; ở 28oC  thời  gian  này  rút  ngắn  còn  10,5 ngày. Mùa  hè  ruồi  sống  khoảng  18-20 ngày, mùa đông sống lâu hơn, có thể đến 4 tháng.

Bến đậu cuối cùng của ruồi Quick Bayt Với 3 cặp chân đốt có nhiều lông ở đệm móng và miệng có vòi liếm hút, ruồi có khả năng mang và  truyền hơn 100  loại mầm  bệnh  cho  người  và  vật  nuôi  như dịch  tả  (cholera),  lao,  thương  hàn (Typhoid),  lỵ  (Dysentery),  dấu  son, nhiệt  thán,  liên  cầu  khuẩn

(streptococcus),  tụ  cầu  khuẩn (staphylococcus),  đậu  mùa,  mắt  hột, viêm gan, bại liệt, PRRS, cúm gia cầm, PED, TGE,  lỵ  amýp,  trùng  roi,    trứng giun  sán,  giun  chỉ  (Onchocerciasis), bệnh giòi (Myiasis), nấm… Sau khi bám đậu  lên  phân,  chất  thải,  máu  mủ,  xác chết  chứa mầm  bệnh,  chân  ruồi  có  thể

mang tới 6 triệu vi khuẩn. Do đặc  tính sinh  lý, sinh  thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi, nó đã trở thành một  trong  các  nguyên  nhân  quan trọng gây bùng phát bệnh, đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa như dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm. Ngoài truyền nhiều dịch bệnh nguy hiểm ruồi còn  làm vấy bẩn và ô nhiễm nguồi thức  ăn,  nước  uống,  quấy  nhiễu  người, gây ngứa ngáy, khó chịu làm giảm năng suất vật nuôi.Ruồi nhà có màu xám, dài  6 - 9 mm với 4 viền đen ở ngực. Ruồi thường bám đậu ở  góc,  dây,  sào,  tường,  trần…  nơi  kín gió.  Chất  thải,  xác  súc  vật,  phân,  rác, máu,  mủ,  chất  nôn  ói…là  thức  ăn  ưa thích của ruồi.Ruồi có vòi cấu  tạo  theo kiểu  liếm hút, khi không ăn vòi được gập vào ổ miệng. Ngực  ruồi  có  3  đôi  chân,  1  đôi  cánh mỏng  với  5  gân  dọc. Chân  gồm  nhiều đốt, có  lông, đốt cuối bàn chân có đệm móng và tuyến tiết dịch. Bụng ruồi có 5 khoang,  ruồi  cái  có  ống  dẫn  trứng thường kéo dài ra khi đẻ và co lại sau đẻ. (Ảnh  ruồi  có  vòi)  và  (ảnh  ruồi  không vòi)Trong  điều  kiện  ấm  áp,  một  tháng  có khoảng hai đến ba thế hệ ruồi được sinh ra.

 Ruồi  có  vòng đời  biến  thái  qua 4  giai  đoạn: trứng,  ấu  trùng  (giòi),  thanh  trùng (nhộng)  và  ruồi  trưởng  thành.  Chỉ  vài giờ  sau nở  ruồi  có  thể giao phối và đẻ trứng sau vài ngày. Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân, xác súc vật…, mỗi lần đẻ  khoảng  100  -  150  trứng  và  có  khả năng đẻ được từ 4 - 8 lần trong đời. Sau 8 - 20 giờ, trứng nở ra giòi, giòi lột xác 2 lần. Sau 2 - 4 ngày, giòi tìm nơi đất xốp chui  xuống  để  phát  triển  thành  nhộng, sau  3  –  6  ngày  nhộng  phát  triển  thành ruồi  chui  lên mặt  đất.  Thời  gian  hoàn thành vòng đời của  ruồi phụ  thuộc vào nhiệt  độ,  thời  tiết  và  thức  ăn  của môi trường. Ở môi  trường  thức ăn phù hợp và  nhiệt  độ  khoảng  18oC,  ruồi  hoàn thành vòng đời trong khoảng 20 ngày; ở 28oC  thời  gian  này  rút  ngắn  còn  10,5 ngày. Mùa  hè  ruồi  sống  khoảng  18-20 ngày, mùa đông sống lâu hơn, có thể đến 4 tháng.

Cách 2

- Hoà  20  g QuickBayt  trong  20 ml nước  ấm  trong  bình  thuỷ  tinh  hay nhựa có miệng rộng

-  Khuấy  kỹ  tạo  dung  dịch  keo  sệt đồng nhất

-  Dùng  cọ  quét  sơn  quét  một  lớp mỏng  lên  bề  mặt  những  nơi  ruồi thường  bám  đậu.  Không  quét  lên những nơi có nhiều bụi

Cách 1

- Rải đều một lớp mỏng sao cho các hạt QuickBayt nằm kề nhau trên khay, đĩa

- Đặt khay, đĩa ở khu vực có nhiều ruồi

- Mỗi gói 20 g có thể xử lý cho 12 m2 bề mặt

- Khi ruồi ăn hết thuốc và ruồi chết phủ kín bề mặt khay đĩa, thay rửa và rải lớp mới.Với 3 cặp chân đốt có nhiều lông ở đệm móng và miệng có vòi liếm hút, ruồi có khả năng mang và  truyền hơn 100  loại mầm  bệnh  cho  người  và  vật  nuôi  như dịch  tả  (cholera),  lao,  thương  hàn (Typhoid),  lỵ  (Dysentery),  dấu  son, nhiệt  thán,  liên  cầu  khuẩn (streptococcus),  tụ  cầu  khuẩn (staphylococcus),  đậu  mùa,  mắt  hột, viêm gan, bại liệt, PRRS, cúm gia cầm, PED, TGE,  lỵ  amýp,  trùng  roi,    trứng

giun  sán,  giun  chỉ  (Onchocerciasis), bệnh giòi (Myiasis), nấm… Sau khi bám đậu  lên  phân,  chất  thải,  máu  mủ,  xác chết  chứa mầm  bệnh,  chân  ruồi  có  thể mang tới 6 triệu vi khuẩn. Do đặc  tính sinh  lý, sinh  thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi, nó đã trở thành một  trong  các  nguyên  nhân  quan

trọng gây bùng phát bệnh, đặc biệt là các bệnh đường tiêu hóa như dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm. Ngoài truyền nhiều dịch bệnh nguy hiểm ruồi còn  làm vấy bẩn và ô nhiễm nguồi  thức  ăn,  nước  uống,  quấy  nhiễu  người, gây ngứa ngáy, khó chịu làm giảm năng suất vật nuôi.

MUỖI:

GIEO RẮC CHẾT CHÓC CHO NHÂN LOẠI:

Có hơn 2,500  loại muỗi khác nhau  trên  thế giới. Mọi loại muỗi đều cần nước để hoàn thành vòng đời. Muỗi hay tập trung gần mặt đất và ít di chuyển xa nơi chúng được sinh ra, đôi khi có thể bị gió đưa đi. Muỗi thường kiếm ăn vào lúc sáng sớm, chiều  tối  và  đêm.  Ban  ngày,  chúng thường  tìm nơi mát mẻ để nghỉ. Chúng thường  sống  ở  những  nơi  ao  hồ,  nước đọng hay những nơi cây cỏ rậm rạp. Chỉ muỗi cái hút máu người và vật nuôi như heo, trâu, bò, ngựa, dê, gà, vịt, cút, ngan, ngỗng, nai,  thỏ kể cả  rắn,  thằn  lằn, ếch nhái…để  cung  cấp  dinh  dưỡng  cho trứng.  Con  đực  sống  nhờ  mật  hoa  và nhựa cây. Nhiệt độ  thích hợp cho muỗi phát triển 20 - 25o

C. Thông thường muỗi cái sống từ 3 – 100 ngày và muỗi đực từ 10 – 20 ngày. Vào mùa hè, con cái có thể

sống đến 3 tuần và nhiều tháng qua mùa đông  để  đẻ  trứng  vào  mùa  xuân  tới. Muỗi  tìm nạn nhân nhờ mùi. Chúng rất nhạy  cảm  với  CO2

  -  loại  khí  thải  của người và động vật máu đỏ,  acid  lactic, dầu  da  và  hơi  nóng  của  người  và  vật

nuôi.Muỗi có vòi hút sắc nhọn gồm 6 phần, 2ống ở giữa và 4 lưỡi cắt. Muỗi chích qua da và tiết nước bọt vào vết thương. Khi  tới mạch máu, nó dùng ống  thứ hai để hút. Nước  bọt  có  chất  gây  tê  làm  nạn nhân mất cảm giác đau cùng chất chống đông giúp hút máu nhanh trong thời gian ngắn. Kẻ gieo rắc chết choc cho nhân loại

- Vòng đời của muỗi: muỗi có vòng đời biến  thái  hoàn  toàn  qua  các  giai  đoạn trứng,  ấu  trùng,  nhộng  và muỗi  trưởng thành. Mỗi cái có thể đẻ 100 – 300 trứng mỗi  lần  và  sản  sinh  trung  bình  1000  – 3000 muỗi con trong đời.

- Trứng: Sau khi hút máu, muỗi đẻ trứng trên mặt  nước  tĩnh  hay  chảy  rất  chậm. Hầu  hêt  trứng  nở  thành  ấu  trùng  trong vòng 48 giờ

- Ấu trùng: Ấu trùng sống trong nước và bơi lên mặt nước để thở qua ống. Chúng ăn chất hữu cơ  trôi nổi và ăn  lẫn nhau. Sau 4 – 6 ngày, qua 4 lần lột xác ấu trùng phát triển thành nhộng. 

- Nhộng: Nhộng cũng sống gần mặt nước và  thở  qua  2  ống  nhỏ  (siphon)  ở  lưng.

Giai đoạn này chúng không cần ăn. Sau 2 ngày nhộng phát triển thành muỗi trưởng thành.

- Muỗi  trưởng  thành: Muỗi mới nở đậu trên mặt nước  trong  thời gian ngắn cho toàn  thân  cứng  cáp,  cánh  khô  và  giang rộng trước khi bay.

Muỗi  gieo  rắc  chết  chóc  cho  nhân  loại nhiều hơn bất cứ sinh vật sống nào khác.

Trên thế giới, hàng năm gần 4 triệu nguời chết do những bệnh muỗi truyền. Muỗi là vật  chủ  trung  gian  truyền  nhiều  bệnh nguy hiểm cho người và vật nuôi.

- Viêm não Nhật Bản (Japanese Encephalitis)

- Sốt rét (Malaria)

- Sốt xuất huyết (Dengue fever)

- Sốt vàng (Yellow fever)

- Giun tim chó (Dog heart worm)

- Ký sinh trùng đường máu heo (Eperythrozoon) và gà (Plasmodium gallinaceum, Leucocytozoono)

Ngoài truyền bệnh, nước bọt muỗi gây ngứa ngáy, viêm da, dị ứng, nổi mề đay làm giảm năng suất vật nuôiCó hơn 2,500  loại muỗi khác nhau  trên thế giới. Mọi loại muỗi đều cần nước để hoàn thành vòng đời. Muỗi hay tập trung gần mặt đất và ít di chuyển xa nơi chúng được sinh ra, đôi khi có thể bị gió đưa đi. Muỗi thường kiếm ăn vào lúc sáng sớm, chiều  tối  và  đêm.  Ban  ngày,  chúng thường  tìm nơi mát mẻ để nghỉ. Chúng thường  sống  ở  những  nơi  ao  hồ,  nước đọng hay những nơi cây cỏ rậm rạp. Chỉ

muỗi cái hút máu người và vật nuôi như heo, trâu, bò, ngựa, dê, gà, vịt, cút, ngan, ngỗng, nai,  thỏ kể cả  rắn,  thằn  lằn, ếch nhái…để  cung  cấp  dinh  dưỡng  cho trứng.  Con  đực  sống  nhờ  mật  hoa  và

nhựa cây. Nhiệt độ  thích hợp cho muỗi phát triển 20 - 25oC. Thông thường muỗi cái sống từ 3 – 100 ngày và muỗi đực từ 10 – 20 ngày. Vào mùa hè, con cái có thể sống đến 3 tuần và nhiều tháng qua mùa

đông  để  đẻ  trứng  vào  mùa  xuân  tới. Muỗi  tìm nạn nhân nhờ mùi. Chúng rất nhạy  cảm  với  CO2

  -  loại  khí  thải  của người và động vật máu đỏ,  acid  lactic, dầu  da  và  hơi  nóng  của  người  và  vật

nuôi.Muỗi có vòi hút sắc nhọn gồm 6 phần, 2 ống ở giữa và 4 lưỡi cắt. Muỗi chích qua da và tiết nước bọt vào vết thương. Khi tới mạch máu, nó dùng ống  thứ hai để hút. Nước  bọt  có  chất  gây  tê  làm  nạn

nhân mất cảm giác đau cùng chất chống đông giúp hút máu nhanh trong thời gian ngắn.

- Vòng đời của muỗi: muỗi có vòng đời biến  thái  hoàn  toàn  qua  các  giai  đoạn trứng,  ấu  trùng,  nhộng  và muỗi  trưởng thành. Mỗi cái có thể đẻ 100 – 300 trứng mỗi  lần  và  sản  sinh  trung  bình  1000  – 3000 muỗi con trong đời.

- Trứng: Sau khi hút máu, muỗi đẻ trứng trên mặt  nước  tĩnh  hay  chảy  rất  chậm. Hầu  hêt  trứng  nở  thành  ấu  trùng  trong vòng 48 giờ

- Ấu trùng: Ấu trùng sống trong nước và bơi lên mặt nước để thở qua ống. Chúng ăn chất hữu cơ  trôi nổi và ăn  lẫn nhau. Sau 4 – 6 ngày, qua 4 lần lột xác ấu trùng phát triển thành nhộng. 

- Nhộng: Nhộng cũng sống gần mặt nước và  thở  qua  2  ống  nhỏ  (siphon)  ở  lưng. Giai đoạn này chúng không cần ăn. Sau 2 ngày nhộng phát triển thành muỗi trưởng thành.

- Muỗi  trưởng  thành: Muỗi mới nở đậu trên mặt nước  trong  thời gian ngắn cho toàn  thân  cứng  cáp,  cánh  khô  và  giang rộng trước khi bay.Muỗi  gieo  rắc  chết  chóc  cho  nhân  loại nhiều hơn bất cứ sinh vật sống nào khác. Trên thế giới, hàng năm gần 4 triệu nguời chết do những bệnh muỗi truyền. Muỗi là

vật  chủ  trung  gian  truyền  nhiều  bệnh nguy hiểm cho người và vật nuôi.

- Viêm não Nhật Bản (Japanese Encephalitis)

- Sốt rét (Malaria)

- Sốt xuất huyết (Dengue fever)

- Sốt vàng (Yellow fever)

- Giun tim chó (Dog heart worm)

- Ký sinh trùng đường máu heo (Eperythrozoon) và gà (Plasmodium gallinaceum, Leucocytozoono) Ngoài truyền bệnh, nước bọt muỗi gây ngứa ngáy, viêm da, dị ứng, nổi mề đay làm giảm năng suất vật nuôi

GIÁN:

PHÁT TÁN HÔI HÁM VÀ BỆNH TẬT:

Gián  là một  trong  những  nhóm côn  trùng  dễ  thích  nghi  và  phát triển nhất, có 4000 loài khác nhau. Chúng  có  thể  sống  ở  môi  trường  khắc nghiệt,  có  thể  sống  1  tháng  không  ăn,  2 tuần  không  uống  và  1  tuần  không  đầu. Gián có thể chạy 3 dặm một giờ và giữ hơi thở  trong  40  phút.  Khả  năng  sinh  sản nhanh mỗi gián sinh ra 150 con mỗi năm. Gián thường sống ở những nơi tối, ấm và ẩm ướt như  tầng hầm, khoảng trống dưới nền,  trong  hay  xung  quanh  cống  thoát nước,  ngăn  đựng  quần  áo,  trong  đống giấy tờ, lá, rác, cống, rãnh đặt ống nước, ... Trời lạnh nó thường sống ần ống dẫn nước nóng. Gián có thể ăn mọi thứ như thực phâm dư  thừa, giấy, gỗ, da, bột cà phê, đầu mẩu  thuốc  lá, kem đánh  răng, keo dán, xà bông, phân, sơn, tóc, móng...

Vòng  đời: Gián  có  vòng  đời  đơn  giản hơn, chỉ  trải qua 3 giai đoạn phát  triển: trứng, nhộng và con trưởng thành.Solfac WP 10

■ Phổ rộng/diệt nhiều loại côn trùng gây hại như ruồi, muỗi, bọ chét, gián, kiến, mối, mọt, nhện, bọ chuồng trại

■ Diệt nhanh

■ Hiệu lực kéo dài đến 12 tuần

■ Hiệu quả ngay cả với bề mặt khó chịu nhất

■ Dễ sử dụng

Trứng: Sau  khi  phối  con  cái  tạo  ra  túi trứng còn gọi  là nang bào chứa 6 – 40 trứng.  Để  an  toàn,  con  cái  mang  túi trứng để vào nơi an toàn ngay trước khi trứng nở.Thỉnh  thoảng  trứng  còn được gắn trên những bề mặt bằng chất tiết từ con mẹ. Ở nhiệt độ trung bình trứng sẽ nở sau 50 đến 55 ngày.

Nhộng:  là gián con mới nở, mềm, màu xanh  xám,  sau  nở một  thời  ngắn  hình thành  bộ  xương  ngoài  cứng,  gián  con của lần lột xác sau lớn hơn lần trước. Số lần  lột  xác  để  thành  gián  trưởng  thành khác nhau  tùy  loài. Có  loài chỉ mất vài tuần, một số loài phải mất vài năm.

Gián trưởng thành: Một khi gián đã trưởng thành  thi  không  lột  xác  nữa.  Cánh  hình thành trước lần lột xác cuối. Thường cánh là dấu hiệu phân biệt giữa nhộng và con trưởng  thành. Tuổi  thọ  của  gián  tuỳ  vào thức ăn và môi trường sống. Với điều kiện lý tưởng, gián có thể sống được 2 năm.Gián  là  vật  chủ  trung  gian  nhiều  bệnh nguy hiểm: Sau khi tiếp xúc với phân và chất  thải  từ  cống  rãnh  nơi  nó  trú  ngụ, chất tiết của gián có mùi hôi, vi khuẩn, virus  và  nguyên  sinh  động  vật  như phong  (leprosy),  dịch  hạch  (bubonic plague), lỵ, tiêu chảy, viêm ruột và viêm tiết  niệu,  viêm  dạ  dày  ruột (gastroenteritis),  thuơng  hàn  (typhoid), viêm gan siêu vi (hepatitis). Ngoài ra nó còn  gây  viêm  da,  phù  thũng  mí  mắt, mũi, chảy nước mắt, hắt hơi, dị ứng và suyễn. Chất tiết, xác sau lột và phân làm

vấy  nhiễm  thức  ăn,  nước  uống  và  vật dụng của người và vật nuôi

KIẾN:

GÂY NHIỀU PHIỀN HÀ CHO CỘNG ĐỒNG

 Kiến là loài côn trùng sống cộng sinh rất thành công. Thân chia làm 3 phần đầu,  ngực  và  bụng.  Ngực  có  3  đôi chân  và  cánh,  ngay  trước  bụng  là cuống.  Kiến  có  hàm  trên  với  nhiều tính  năng  như  nắm,  xé  và  cắt…  hầu hết kiến có vòi ở phần cuối bụng. Vòi chỉ có ở con cái. Kiến có râu ăng  ten để truyền tin. Phần cuống có tuyến sau màng phổi đặc trưng. Tuyến này tiết ra chất  chống  vi  khuẩn  và  nấm  giúp chúng  sống  sót  trong môi  trường  ẩm tối và cây cỏ mục nát, ngoài ra còn tiết pheromone để truyền tin. Kiến  không  lây  truyền  bệnh  như  ruồi muỗi và một  số  côn trùng khác nhưng nó làm vấy bẩn thức ăn, tập  vở,  quần  áo  và những  vật  dụng khác. Ngoài  ra, kiến còn  cắn,  đốt  gây viêm da, dị ứng, mẩn ngứa  khó  chịu  cho người và vật nuôi.

Gián  là một  trong  những  nhóm côn  trùng  dễ  thích  nghi  và  phát triển nhất, có 4000 loài khác nhau. Chúng  có  thể  sống  ở  môi  trường  khắc nghiệt,  có  thể  sống  1  tháng  không  ăn,  2 tuần  không  uống  và  1  tuần  không  đầu. Gián có thể chạy 3 dặm một giờ và giữ hơi thở  trong  40  phút.  Khả  năng  sinh  sản nhanh mỗi gián sinh ra 150 con mỗi năm. Gián thường sống ở những nơi tối, ấm và ẩm ướt như tầng hầm, khoảng trống dưới nền,  trong  hay  xung  quanh  cống  thoát nước,  ngăn  đựng  quần  áo,  trong  đống giấy tờ, lá, rác, cống, rãnh đặt ống nước,

... Trời lạnh nó thường sống ần ống dẫn nước nóng. Gián có thể ăn mọi thứ như thực phâm dư  thừa, giấy, gỗ, da, bột cà phê, đầu mẩu  thuốc  lá, kem đánh  răng, keo dán, xà bông, phân, sơn, tóc, móng...

Vòng  đời: Gián  có  vòng  đời  đơn  giản hơn, chỉ  trải qua 3 giai đoạn phát  triển: trứng, nhộng và con trưởng thành.

1. Phun xịt

- 20 g Solfac trong 5 lít nước (4 g/ lít)

- Cho Solfac vào bình, đổ khoảng nửa lít nước vào rồi lắc kỹ, đến khi  thuốc  tan đều, cho phần nước còn  lại vào

- Vặn chặt nắp bình phun, lắc đều, bơm nén khí tạo áp lực

-  Phun 50 ml dung dịch/ m2 ở những khu vực mà các loài này thường sống và ẩn náu (trần, tường vách, góc nhà…)

2. Quét

- Pha 4 g Solfac với 100ml nước, khuấy cho tan đều

- Dùng cọ quét lên những khu vực mà các loài này thường sống và ẩn náu Hiệu lực diệt côn trùng có thể kéo dài  2 - 3 tháng nếu nơi phun, quét thuốc không bị lau rửa.

Trứng: Sau  khi  phối  con  cái  tạo  ra  túi trứng còn gọi  là nang bào chứa 6 – 40 trứng.  Để  an  toàn,  con  cái  mang  túi trứng để vào nơi an toàn ngay trước khi trứng nở.Thỉnh  thoảng  trứng  còn được gắn trên những bề mặt bằng chất tiết từ con mẹ. Ở nhiệt độ trung bình trứng sẽ nở sau 50 đến 55 ngày.

Nhộng:  là gián con mới nở, mềm, màu xanh  xám,  sau  nở một  thời  ngắn  hình thành  bộ  xương  ngoài  cứng,  gián  con của lần lột xác sau lớn hơn lần trước. Số lần  lột  xác  để  thành  gián  trưởng  thành khác nhau  tùy  loài. Có  loài chỉ mất vài tuần, một số loài phải mất vài năm.

Gián trưởng thành: Một khi gián đã trưởng thành  thi  không  lột  xác  nữa.  Cánh  hình thành trước lần lột xác cuối. Thường cánh là dấu hiệu phân biệt giữa nhộng và con trưởng  thành. Tuổi  thọ  của  gián  tuỳ  vào thức ăn và môi trường sống. Với điều kiện lý tưởng, gián có thể sống được 2 năm.Gián  là  vật  chủ  trung  gian  nhiều  bệnh nguy hiểm: Sau khi tiếp xúc với phân và chất  thải  từ  cống  rãnh  nơi  nó  trú  ngụ, chất tiết của gián có mùi hôi, vi khuẩn, virus  và  nguyên  sinh  động  vật  như phong  (leprosy),  dịch  hạch  (bubonic plague), lỵ, tiêu chảy, viêm ruột và viêm tiết  niệu,  viêm  dạ  dày ruột(gastroenteritis),  thuơng  hàn  (typhoid), viêm gan siêu vi (hepatitis). Ngoài ra nó còn  gây  viêm  da,  phù  thũng  mí  mắt, mũi, chảy nước mắt, hắt hơi, dị ứng và suyễn. Chất tiết, xác sau lột và phân làm

vấy  nhiễm  thức  ăn,  nước  uống  và  vật dụng của người và vật nuôi

BỌ CHUỒNG TRẠI:

CƯ DÂN MANG NHIỀU MẦM BỆNH TRONG TRẠI

Bọ chuồng gà đẻ trứng và nở ra ấu trùng sống  trong  chất độn chuồng dưới máng ăn. Ấu trùng chui xuống nền chuồng phát triển  thành  nhộng  và  thành  bọ  trưởng thành.Bọ chuồng gà  là vật chủ  trung gian  lây truyền nhiều bệnh cho gia cầm như lơco (leucosis),  Marek,  gumboro  (infectious bursal  disease),  reovirus,  enterovirus, đậu  (fowl  pox),  dịch  tả  (Newcastle), E. coli,  thương  hàn  (Salmonella  typhimu-

rium),  Campylobacter,  giun  tròn,  sán dây, cầu trùng…

Ngoài  truyền bệnh, bọ và  ấu  trùng  còn làm hư hại cấu trúc chuồng như tấm cách nhiệt, nền  chuồng với nhiều  lỗ và  rỗng đặc biệt là dưới máng ăn làm ảnh hưởng đến  hiệu  quả  của  việc  dọn  rửa  và  sát trùng. Tăng chi phí thức ăn do bọ và ấu trùng ăn thức ăn rơi vãi.

  1. Đổ Solfac vào bình 2. Đổ khoảng 100 ml nước.Vòng đời của bọ chuồng gà (darkling beetle)

MỌT

KẺ THÙ CỦA MỌI LOẠI HẠT:

Mọt phá huỷ ngũ cốc và hạt giống. Con trưởng thành có màu nâu đỏ đậm, dài 3 – 4,5 mm, đầu có vòi. Con cái đẻ

trứng  trong  hạt  và  những  thực  phẩm thích hợp khác. Ấu trùng đục và ăn sâu vào hạt. Quá trình hình thành nhộng xảy ra ở lỗ hõm trong hạt. Mọt sinh sản nhanh, có thể cho ra 3 – 5 thế hệ mỗi năm. Mọt phá huỷ hạt đặc trưng với lỗ tròn nhỏ, nổi rõ.Mọt  làm hư hại,  ẩm uớt ngũ  cốc và hạt giống,  tạo

điều kiện cho nấm mốc phát  triển,  làm giảm giá  trị dinh dưỡng, giảm giá trị thương mại, gây thiệt hại lớn về kinh tế.  Mọt ngũ cốc Mọt lúa, bắp Mọt đậu

3. Lắc, khuấy cho tan đều 3. Thêm nước cho đủ định lượng,lắc đều và phun xịt

Một số côn trùng hại kho phổ biến

Sắp xếp theo tên Khoa học

Tên khoa học

Tên Việt Nam

Acanthoscelides obtectus Say.......................

Mọt đậu nành...........................................

Aglossa dimidiata Haworth..........................

Ngài gạo đen............................................

Ahasverus advena Watl...............................

Mọt gạo dẹt..............................................

Alphitobius piceus Olivier............................

Mọt khuẩn đen..........................................

Alphitophagus bifasciatus Say......................

Mọt song đới............................................

Aphomia gularis Zeller................................

Ngài thóc một đốm..................................

Araecerus fasciculatus Degeer......................

Mọt cà phê...............................................

Atropos pulsatorium Linné...........................

Rệp bụi...................................................

Attagenus piceus Olivier...............................

Mọt da đen...............................................

Blatella germanica Linné.............................

Gián Đức................................................

Blatta orientalis Linné..............................

Gián đen..................................................

Bruchus pisorum Linné................................

Mọt đậu Hà Lan........................................

Bruchus rufimanus Boheman........................

Mọt đậu tằm.............................................

Callosobruchus chinensis Linné....................

Mọt đậu xanh...........................................

Callosobruchus maculatus Fabricius..............

Mọt đậu đỏ...............................................

Carpophilus dimidiatus Fabricius..................

Mọt gạo thòi đuôi.....................................

Carpophilus hemipterus Linné......................

Mọt thò đuôi điểm vàng.............................

Carpophilus obsoletus E..............................

Mọt lớn thòi đuôi.......................................

Caulophilus latinasus Say............................

Mọt to vòi................................................

Hỗ trợ Online
0909 755 882
Fax: (08) 37361911
Address:
Hình ảnh Mekong

pestman

khu trung

phun khói

phun diệt côn trùng

Copyright © 2015 - 2017 http://www.khutrungmekong.com/ All rights reserved
Design by www.Thanhlapweb.com - KingbaoMedia